Mùa xuân của Nguyễn Bính (phần 3)

Nơi tìm kiếm và hẹn hò của những lứa đôi. Bởi thế. chỉ mới nghe mẹ bào thôn Đoài hát tối nay cô gái quê e ấp kín đáo bỗng biến đổi, linh động hẳn lên. Cô chợt dừng tay dệt vải, má chợt ngừng hồng, đầu óc một phúc lơ đãng đi đâu, và cái hành vi rất thực và rất gợi này :
“Em ngứa bàn tay trước mái hiên
Mưa chấm bàn tay từng chấm lạnh “
Hành vi, cảnh trí, những biểu hiện bề ngoài ấy là nhằm để tả tình, hàn thuyên rồi. Để ý một chút, ta sẽ thấy tác giả vận dụng rất khéo cái quy luật người buồn cảnh có vui đâu bao giờ khi so sánh hai tám thê diễn ra hầu như đối chọi nhau trước cùng một cảnh ấy là khi cô gái rạo rực hy vọng đi đến với đêm hội.
“Mưa nhỏ nên em không ướt áo”
Thôn Đoài cách có một thôi đê. Nhưng khi cô không gặp được chàng trai, thất vọng tràn trề, cô quay về thì :
Cô ngán gì dâu một dải áo lá tì mỏng che dấu mưa nặng hợt và cả mùa xuân nữa. Với mưa xuân với hoa xoan và “ hội chèo làng Đặng đi qua ngõ “… mới hôm nào như những sứ giả mang hy vọng đến, giờ cũng theo lòng người mà lạnh giá, tàn tạ, thô lương : mưa xuân đã ngại bay hoa xoan đã nát dưới chân giày ( tả cảnh quê xưa mà dùng chữ giày có vẻ không hợp, nhưng kể cũng không sao), hội chèo làng Đặng đã về qua ngõ. và mùa xuân thì đã cạn ngày. Cạn ngày là lại sắp hết, nhưng lối dùng từ bằng hình ảnh cụ thể của dân gian này gây ấn tượng hơn, và cũng hồn nhiên hơn.
Nhưng cái thất vọng của người nhà quê là vô cùng hiền lành hơn cái tuyệt vọng tê tái của người tri thức thị thành, bởi là người lao động mạnh về thể xác nên tâm hồn họ cũng thường lành mạnh. Mùa hội đã qua, người tình đa xa, cô gái quê buồn nhưng không tuyệt vọng :
Bao giờ em mới gặp anh đây?
Bao giờ Hội Đặng đi ngang ngõ
Để mẹ em ràng hát tối nay ?
Còn nghi vấn là còn chờ đợi. Mà còn chờ đợi vẫn còn hy vọng.
Đây là tất cả câu chuyện tình trong bài thơ. Nhưng nội hàm bài thơ này không chỉ có thế. Nó còn một vế nữa, tồn tại độc lập. Ấy là vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên của làng quê Việt Nam, mà ở đây là miền Bắc từ đèo Hải Vân trở ra. Sở dĩ tôi dám nhấn mạnh cụ thể như vậy là vì những chất liệu thực trong hài thơ cho phép ta nhận ra đặc thù không thể lẫn của thời tiết khí hậu và cảnh sắc của miền Bắc nó rất khác với miền Nam do cấu tạo địa lý của đất nước ta, đặc biệt là vào giữa Đông – Xuân. Ấy là những cảnh giá lạnh ẩm ướt, bầu trời thật thấp và âm u, với loài hoa xoan màu trắng tím nở thành chùm, thành ngữ “ như lẫn vào mây trắng và sương mù ”, thứ hơi nước lãng đãng bốc lên từ hồ, ao, nửa như mây, nửa như mưa huyền hoặc vô cùng, thêm một bước nữa – quá mù ra mưa, thì đó là thứ mưa bụi, hay mưa phùn, hay cũng là mưa bay, mưa lay phay thứ mưa không ướt áo, mưa không ướt đất ấy thực là một vỏ đẹp mê hồn và là đặc thù của mùa Xuân đất Bắc mà bao người đi xa vẫn nhớ đến nao lòng. Tôi tin rằng thi sĩ Nguyễn Bính, một con người nhà quê hơn cả như đã nói ở trên chắc sinh thời cũng phủi mô đám cành mai xuống miền Bắc lắm lắm, bởi ông đã nhiều lần đem theo mưa vào thơ cùng với hồn mình, mà đem một cách thiết tha, âu yếm vô cùng. Lòng yêu cảnh ấy trong Mưa xuân đã thành ra một chủ đề độc lập của bài thơ, một chút ấm, một giai điệu chính, hoặc đúng hơn là một nhân vật của thơ. Ta không còn biết ở đây là mượn mưa xuân để gửi câu chuyện tình, hay chính là mượn câu chuyện tình để thổi hồn vào cảnh mưa xuân ? Có lẽ là cả hai. Người đọc thơ vừa có cái thú được ngắm màn mưa bụi như sương khói vẫn phủ trên những bờ tre, mái rạ, hay trên những cánh đồng lúa thì con gái xanh mơn mởn, lại thú hơn nữa được bàn tay ai vén bức màn mưa và màu xanh ngỡ như ngàn năm bất động, bất biến kia để gặp gỡ với những con người chân quê đôn hậu, được nghe những tâm sự thầm kín, những khát khao, những hy vọng, thất vọng rồi lại hy vọng của những tình yêu da diết. Và với những ai có gốc gác thôn quê, thì đấy sẽ là một cuộc viếng thăm lại cố hương trong chốc lát. Đó chẳng phải là một hạnh phúc thật quý giá hay sao?
Anh Ngọc – Thế giới phụ nữ – Phụ nữ Việt Nam – Số 70 – 1999

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *